• Trang Chủ
  • Sản Phẩm
    • BẢO VỆ MẮT
    • BẢO VỆ ĐẦU
    • BẢO VỆ TAI
    • BẢO VỆ HÔ HẤP
    • BẢO VỆ TAY
    • Xem Thêm
  • Giới Thiệu
  • Báo Giá
  • Tin Tức
  • Liên Hệ
| 0

Trang ChủTin Tức  SỔ TAY CẤP CỨU TAI NẠN LAO ĐỘNG

SỔ TAY CẤP CỨU TAI NẠN LAO ĐỘNG

Tin tức
31-10-2023 - 10:02 AM

Sổ tay cấp cứu bao gồm 7 bài, có hướng dẫn chi tiết về cách giúp đỡ những người bị tai nạn theo từng trường hợp.

Bài 1: CẤP CỨU NGỪNG THỞ NGỪNG TIM

I.Mục tiêu:
-Phát hiện người bị ngừng thở, ngừng tim.
-Thực hiện hô hấp nhân tạo đúng cách.
-Tiến hành cấp cứu ngừng thở, ngừng tim, đúng quy trình kỹ thuật.
II.Nội dung:
1.Dấu hiệu phát hiện người bệnh bị ngừng thở, ngừng tim.
– Toàn thân da tím tái.
– Thở ngáp, không còn động tác thở.
– Không sờ thấy mạch ở cổ và bẹn, tim không đập.
– Phải tiến hành cấp cứu ngừng thở, ngừng tim ngay lập tức, vì nếu để quá 3 phút, tế bào não sẽ khôg hồi phục trở lại.
2. Hô hấp nhân tạo:
  Sau khi đã xác nhận ngừng thở, phải tiến hành hô hấp nhân tạo ngay. Phương pháp thông dụng, hiệu quả nhất là hà hơi thổi ngạt, gồm các động tác sau:
– Đặt bệnh nhân nằm ngửa, cổ ưỡn, độn vai.
– Khai thông đường thở: Lau sạch mũi miệng, lấy dị vật ở mũi miệng (nếu có).
– Nới rộng quần áo cho nạn nhân.
* Người làm hô hấp nhân tạo quỳ ở cạnh đầu người bệnh:
– Một tay đẩy cằm nạn nhân ra phía trước và lên trên để bệnh nhân há miệng.
– Một tay đặt lên trán nạn nhân, bóp chặt 2 lỗ mũi.
– Hít một hơi dài, áp miệng mình vào miệng nạn nhân rồi thổi (có thể đặt 1 khăn mùi xoa lên miệng nạn nhân trước khi thổi).
– Khi thổi quan sát xem ngực nạn nhân có phồng lên hay không  ( nếu ngực phồng lên là được).
– Ngửa mặt lên, hít một hơi dài. Bỏ tay đang bịt mũi nạn nhân, để nạn nhân tự thở ra.
– Thổi như vậy từ 15-18 lần trong  1 phút, tới khi nạn nhân tự thở được.
Có thể bịt miệng nạn nhân thổi vào mũi.
-Kết hợp vừa hà hơi, vừa thổi ngạt, vừa xoa bóp tim ngoài lồng ngực.
*Đối với trẻ nhỏ, người cấp cứu có thể áp miệng vào cả mũi và miệng đứa bé và thổi nhẹ nhàng.
3. Xoa bóp tim ngoài lồng ngực:
  Khi một nạn nhân bị ngừng tim phải tiến hành bóp tim ngoài long ngực ngay:
– Đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền cứng, nằm ngửa tối đa.
– Lau sạch mũi miệng, lấy dị vật ở mũi, miệng (nếu có).
– Người cấp cứu đặt lòng bàn tay trái lên phần nửa dưới xương ức, bàn tay phải để chéo lên góc lên bàn tay trái.
– Duỗi thẳng 2 tay, ấn thẳng vuông góc với lồng ngực, sao cho xương ức lún sâu xuống 3-4 cm.
– Làm nhịp nhàng 60 -70 lần trong 1 phút.
– Tiến hành kiên trì tới khi tim đập trở lại, nếu sau 1 giờ cấp cứu tim không đập trở lại thì mới thôi.
– Đối với trẻ nhỏ, chỉ cần dùng 2 ngón trỏ và 2 ngón giữa bắt chéo lên nhau, ép tim nhẹ nhàng từ 80 – 100 lần trong 1 phút.
Phải tiến hành song song bóp tim ngoài lồng ngực và hô hấp nhân tạo. Cứ 4- 5 lần bóp tim lại 1 lần thổi ngạt.
 
BÀI 2: SƠ CỨU CHOÁNG
 
I, Mục tiêu:
Nhận biết dấu hiệu choáng.
Tiến hành  xử lý choáng ban đầu cơ sở.
II, Nội dung:
1.Đại cương:
Choáng là một tình trạng bênh lý phức tạp, do nhiều nguyên nhân gây ra, như:
– Bỏng nặng.
– Vết thương chảy nhiều máu.
– Do gãy xương lớn: xương đùi, xương chậu…vết thương bụng có lòi tạng ra ngoài, vết thương thấu ngực…
– Choáng phản vẹ dùng thuốc.
– Các bệnh gây mất nước nhiều: ỉa chảy kéo dài, nôn nhiều…
2. Dấu hiệu:
– Mặt xanh xám, toát mồ hôi, chân tay lạnh.
– Vẻ mặt lo âu hoảng hốt.
– Mạch nhanh nhỏ, có khi không bắt được ở cổ tay, chỉ sờ thấy mạch ở cổ và bẹn,
– Thở nhanh, nông, nhịp thở tới 50-60 lần/ phút.
– Huyết áp hạ, huyết áp càng hạ tiên lượng càng xấu.
– Đái ít, có thể vô niệu.
– Tri giác giảm dần, tiến tới hôn mê.
3. Xử lý choáng:
Phải xử lý chống choáng ngay từ đầu khi tiên lượng sẽ có choáng xảy ra. Không nên chờ đến khi dấu hiệu choáng rõ mới xử lý.
-Đặt nạn nhân nằm ngửa, nâng cao chân, nằm ở nơi kín gió.
– Nới rộng quần áo cho nạn nhân.
– Ủ ấm về mùa lạnh.
– Cho uống nước chè đường ấm hoặc dung dịch ORS ( nếu không có tổn thương ở vùng bụng).
– Lau sạch đờm dãi, làm thong thoáng đường thở cho nạn nhân.
– Xử lý nguyên nhân gây ra choáng:
Ví dụ: Cố định gãy xương, băng vết thương chảy máu…
-Chuyển nhanh chóng, nhẹ nhàng nạn nhân lên tuyến trên điều trị.
 
Bài 3: BĂNG BÓ

I.Mục tiêu:
1. Hiểu tác dụng của băng bó.
2. Thực hiện các dạng băng bó đơn giản.
3. Tiến hành băng được những vết thương cơ bản, đúng kỹ thuật.
II. Nội dung:
1.Tác dụng của băng bó:
-Che chở, bảo vệ vết thương, giảm đau cho nạn nhân.
– Cầm máu trong vết thương phần mềm, vết thương đứt tĩnh mạch, mao mạch.
– Tham gia hút dịch máu mủ, làm sạch vết thương.
– Phối hợp với nẹp, cố định tạm thời gãy xương.
2. Nguyên tắc chung khi băng bó:
Có 8 nguyên tắc sau đây:
-Trước khi băng vết thương phải được sát khuẩn sạch sẽ.
– Bông băng dụng cụ phải đảm bảo vô trùng. Tay cấp cứu viên phải sạch sẽ.
– Vòng băng phải che kín vết thương, ngăn ngừa nhiễm khuẩn, thấm hút dịch tốt.
– Băng vừa chặt, vòng sau đè lên ½  đến 2/3 vòng trước.
– Khi băng chân tay thì băng từ dưới lên trên, để hở đầu chi tiện cho việc theo dõi.
– Cuộn băng lăn sát cơ thể, di từ trái sang phải không để rơi băng.
– Băng nhẹ nhàng, nhanh chóng, không làm tổn thương them tổ chức, không làm bệnh nhân đau đớn thêm.
– Khi buộc nút băng, không buộc đè lên vết thương, đầu xương hoặc những chỗ bị tỳ đè.
3. Các loại băng: có nhiều loại băng.
– Băng cuộn: hay dùng nhất.
– Băng dính: Các vết thương nhỏ.
– Băng tam giác, băng bốn giải: Băng các vị trí đặc biệt.
4. Tiến hành băng bó vết thương đơn giản:
– Nhân viên y tế rửa tay sạch, bộc lộ vết thương.
– Lau rửa vết thương sạch sẽ (xem bài thay băng, rửa vết thương).
– Sát khuẩn vết thương và xung quanh vết thương.
– Đặt gạc vô khuẩn lên mặt vết thương.
– Băng từ dưới vết thương trở lên, băng vừa chặt, vòng sau đè lên ½ đến 2/3 vòng trước.
Tùy các vết thương mà có vòng băng cho phù hợp.
-Băng kín vết thương, buộc nút băng cố định.
-Kiểm tra lại, nếu băng quá lỏng hoặc quá chặt thì băng lại.
5. Một số hình ảnh đường băng:
– Băng vòng khóa: 2 vòng băng đầu tiên khởi đầu bằng các loại đường băng.
– Băng bẹn
– Băng xoáy ốc.
– Băng chữ nhân
– Băng số 8
 
Bài 4: SƠ CỨU VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM, CHẢY MÁU (GA RÔ, BĂNG ÉP)
 
I, Mục tiêu:
1.Trình bày các dấu hiệu chảy máu.
2. Nêu nguyên nhân và mục đích cầm máu.
3. Nguyên tắc đặt ga rô.
4.Tiến hành ga rô băng ép đúng quy trình kỹ thuật.
II, Nội dung:
1.Đại cương:
Vết thương phần mềm là những vết thương gây tổn thương ở da, tổ chức dưới da và các cơ. Vết thương phần mềm rất dễ nhiễm khuẩn, vì vậy sơ cứu ban đầu rất quan trọng.
Vết thương phần mềm rất đa dạng, có thể kèm theo các loại tổn thương khác như: gãy xương hở, vết thương mạch máu, vết thương thần kinh…
2. Sơ cứu vết thương phần mềm:
2.1.Vết thương phần mềm nhỏ, sạch:
– Sát khuẩn vết thương bằng dung dịch sát khuẩn như: nước muối sinh lý, dung dịch oxy già…
– Sát khuẩn xung quanh vết thương bằng cồn pha loãng.
– Thấm khô vết thương bằng  gạc sạch.
– Đặt gạc vô trùng lên vết thương.
– Băng kín vết thương bằng băng dính hoặc băng cuộn nhỏ.
2.2. Vết thương phần mềm lớn, giập nát, bẩn:
– Rửa vết thương bằng nước sạch và xà phòng (hoặc dung dịch oxy già).
– Nhặt nhẹ nhàng đất cát hoặc di vật bẩn trên miệng vết thương (không được chọc ngoáy, thăm dò vết thương).
– Đặt gạc vô khuẩn lên miệng vết thương, dùng băng cuộn lại.
– Nếu là vết thương ở chân tay, nẹp cố định lại chân tay.
– Chuyển sớm bệnh nhân lên tuyến trên điều trị.
3. Sơ cứu vết thương chảy máu:
3.1. Mục đích và nguyên tắc cầm máu vết thương:
Máu lưu thong khắp cơ thể, cung cấp cho các tổ chức, tế bào oxy và các chất dinh dưỡng, vì vậy khả năng chảy nhiều máu ở các tổ chức thiếu máu nuôi dưỡng sẽ hoại tử, đồng thời lưu lượng tuần hoàn giảm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới các cơ quan quan trọng của cơ thể như não, tim , thận. Cho nên khi nạn nhân có vết thương chảy nhiều máu phải tiến hành cầm máu ngay tức thì.
3.2. Dấu hiệu các loại chảy máu:
a. Chảy máu động mạch: Khi đứt động mạch, máu chảy đỏ tươi, phun thành tia và phun mạnh khi mạch đập. Khi chặn tay ở vết thương máu sẽ ngừng chảy hoặc giảm bớt.
b. Chảy máu tĩnh mạch: Máu chảy đỏ sẫm, máu chảy đùn ra không theo nhịp tim. Nếu chặn ép lên vết thương hoặc ấn mạnh phía dưới vết thương, máu sẽ ngừng chảy hoặc giảm chảy rõ.
c. Chảy máu mao mạch: Máu chảy rỉ ra từ vết thương.
3.3. Kỹ thuật cầm máu:
– Cầm máu vết thương đứt tĩnh mạch, mao mạch: Băng ép vết thương.
* Nhanh chóng ép trực tiếp lên vết thương hoặc dùng 2 tay ép 2 mép vết thương lại. Nếu có điều kiện thì đặt lên mặt vết thương một miếng gạc hoặc một miếng vải sạch trước khi ép trực tiếp lên mặt vết thương.
* Để bệnh nhân nằm hoặc ngồi ở tư thế thuận tiện, thoải mái, nâng cao vùng bị tổn thương để làm giảm chảy máu.
* Dùng băng cuộn băng ép lên miếng gạc xung quanh vết thương.
* Nếu máu thấm qua băng thì dùng băng vải quấn them lên băng cũ.
* Cho bệnh nhân uống nước chè đường ấm.
* Chuyển ngay bệnh nhân lên tuyến trên điều trị.
– Cầm máu vết thương đứt động mạch:
* Chỉ tiến hành đặt ga rô khi đứt động mạch.

Nguyên tắc đặt ga rô có 7 nguyên tắc sau:
+ Chỉ đặt ga rô khi vết thương đứt động mạch. Không đặt ga rô bừa bãi, nhất là khi vết thương chỉ đứt tĩnh mạch mao mạch.
+ Không đặt ga rô trực tiếp lên da vì gây them tổn thương lên da.
+ Đặt ga rô vừa phải để cầm máu.
Không xoắn quá chặt làm bệnh nhân đau.
Không lỏng quá vì máu sẽ tiếp tục chảy.
+ Không đặt ga rô quá xa vết thương.
Nếu vết thương nhỏ, đặt ga rô trên vết thương 2-3 cm.
Nếu vết thương lớn, đặt ga rô trên  vết thương 5cm.
+ Không để ga rô quá lâu, trung bình 1 giờ nới ga rô 1 lần, mỗi lần nới từ 1-2 phút, không nới quá 5 lần ( tổng số giờ đặt ga rô không quá 6 giờ).
+ Phải ghi phiếu ga rô rõ rang, để phiếu trên người bệnh nhân nơi dễ nhìn thấy nhất. Chữ viết phiếu ga rô và khung màu đỏ để dễ dàng phát hiện.
+ Vận chuyển bệnh nhân ưu tiên số 1.  Khẩn trương đưa bệnh bênh về cơ sở y tế có phương tiện phẫu thuật gần nhất.
Kỹ thuật đặt ga rô:
+ Trong khi chuẩn bị đặt ga rô, cần bảo người phụ hoặc bênh nhân ấn chặt vào phía trên đường đi của động mạch.
Chi trên: ấn vào hõm nách, phía trước trong cánh tay, hay phía trong nếp khuỷu.
Chi dưới: ấn vào giữa nếp bẹn.
Nếu bị thương ở bẹn thì ấn chặt vào bên trái dưới rốn (động mạch chủ bụng).
+ Dùng 1 miếng gạc đặt vòng quanh chỗ định đặt ga rô, Sau đó quấn 3 vòng băng cao su ga rô:
Vòng 1: Vừa phải
Vòng 2: Chặt hơn
Vòng 3: Chặt nhất
+ Sau khi quấn kiểm tra lại, nếu vẫn chảy máu thì phải quấn lại.
Tiến hành băng vô khuẩn vết thương và bất động chi.
+ Khi nới gạc ga rô phải từ từ, vừa nới vừa quan sát vết thương, phần chi dưới vết thương, đồng thời đề phòng sốc xảy ra.
Nếu không có dây ga rô thì có thể đặt 1 cuốn băng trên đường đi của động mạch, rồi quấn băng hay vải xung quanh, dùng 1 que nhỏ xoắn chặt lại tới khi máu ngừng chảy.
Cố định que, tránh va chạm vào vết thương. 
 
PHIẾU GA RÔ
CẤP CỨU SÓ 1
 
Họ và tên bệnh nhân:                                            Tuổi:
Địa chỉ:
Vị trí vết thương:
Ngày, tháng:                      Giờ:                     đặt ga rô.
         Họ và tên người đặt ga rô:                                     Chức vụ:
            Chuyển bệnh nhân hồi:        giờ, ngày         tháng         năm
        Nới ga rô lần 1:       giờ, ngày             người nới, chức vụ:
        Nới ga rô lần 2:       giờ, ngày             người nới, chức vụ:
        Nới ga rô lần 3:       giờ, ngày             người nới, chức vụ:
        Nới ga rô lần 4:       giờ, ngày             người nới, chức vụ:
        Nới ga rô lần 5:       giờ, ngày             người nới, chức vụ:
 
Bài 5:SƠ CỨU GÃY XƯƠNG

I.Mục tiêu:
1.Hiểu được mục đích, phân loại và các nguyên nhân gây gãy xương.
2. Tiến hành cố định gãy xương đúng kỹ thuật.

II. Nội dung:
1.Các nguyên nhân gây gãy xương:
-Có thể do lực tác động trực tiếp :
Ví dụ:  bị đánh mạnh, bị ngã, rơi từ trên cao.
-Có thể do lực gián tiếp. Lực này có thể di chuyển từ điểm tiếp nhận lực đến nơi khác trong cơ thể và làm gãy xương ở đó.
Ví dụ: bước hụt chân hay sẩy chân…
2.Phân loại:
  Gãy xương là tình trạng tổn thương ảnh hưởng tới toàn vẹn của xương.       Gãy xương có 2 loại:
-Gãy xương kín: Khi ổ gãy xương không thong với môi trường bên ngoài da, da có thể bị bầm hoặc sưng.
– Gãy xương hở: Khi ổ gãy xương thông với môi trường bên ngoài da. Nhìn trên vết thương thấy có đầu xương nhô ra hoặc thấy có dịch tủy xương ánh vàng như mỡ lẫn máu chảy ra. Loại này rất nguy hiểm vì có nguy cơ bị nhiễm khuẩn.
+ Trật khớp xương có thể do lực xoắn mạnh vào một vị trí không bình thường hoặc co rút cơ mạnh. Có thể kèm theo đứt dây chằng. Các khớp thường hay bị trât là khớp vai, khớp ngón tay cái, ngón tay và các khớp ở cằm.
3. Dấu hiệu chính của gãy xương:
– Đau nhức nơi gãy xương.
– Mất cử động cơ năng chi bị gãy xương.
– Biến dang chi:
+ Xung quanh chỗ gãy xưng nề, da hơi đỏ.
+ Lệch trục chi, chi ngắn lại và gấp góc.
-Ấn nhẹ vào điểm gãy nạn nhân đau nhói có thể nghe thấy tiếng “ Lạo xạo xương”.
4. Mục đích cố định tạm thời gãy xương:
– Không biến gãy xương kín thành gãy xương hở.
– Giảm đau. Phòng chống sốc ( sốc do đau đớn).
– Không làm tổn thương mạch máu và thần kinh xung quanh ổ gãy xương.
5. Sơ cứu gãy xương:
*Cần lưu ý:
-Ngăn không cho bất cứ cử động nào ở chỗ gãy.
– Chưa được di chuyển nạn nhân khi chưa cố định chỗ gãy xương. Cố định gãy xương là điều rất quan trọng ( xem bài cố định gãy xương) .
*Nguyên tắc:
– Nếu có vết thương khác phải sơ cứu vết thương đó trước, nhưng không được làm lệch chỗ gãy xương.
– Phải cố định trên ổ gãy 1 khớp và dưới ổ gãy 1 khớp.
– Cố định chi gãy theo tư thế cơ năng:
Chi trên cố định gấp khuỷu tay 90o
Chi dưới duỗi thẳng 180o
-Trường hợp gãy hở cần chú ý:
+ Không được kéo đầu xương gãy vào trong ổ gãy.
+ Băng bó vết thương rồi cố định theo tư thế gãy.
Sau khi cố định, buộc chỉ gãy với phần lành của cơ thể để giảm bớt sự di lệch.
+ Gãy chi trên buộc ép với than mình.
+ Gãy chi dưới buộc ép với chi lành.
a.Gãy xương cánh tay:
– Đỡ nạn nhân ngồi, nhẹ nhàng đặt tay bị thương cao ngang ngực sao cho nạn nhân thấy dễ chịu, giữ ở tư thế đó.
– Dùng băng tam giác, treo tay nạn nhân và buộc cố định vào trước ngực, đặt miếng đệm lót mềm giữa tay và ngực và dùng băng cuộn lớn buộc chặt quanh ngực và vòng qua lớp băng treo.
– Nếu không có băng treo tam giác thì đặt nẹp cố định:
Đặt 2 nẹp:
+ Một nẹp bên trong, đầu trên tớ hố nách, đầu dưới quá khuỷu tay.
+ Một nẹp bên ngoài, đầu trên quá mỏm vai, đầu dưới quá khuỷu tay.
Băng cố định lại, buộc ép cánh tay vào người.
b. Gãy xương cổ tay và cẳng tay:
– Cố định bằng băng tam giác, băng cuộc như gãy xương cánh tay.
– Hoặc cố định bằng 2 nẹp:
Đặt 2 nẹp, một bên trong và một bên ngoài, cả 2 nẹp đặt từ quá khuỷu tay, đến các đầu ngón tay.
Cố đinh 2 nẹp vào cẳng tay.
Treo ở tư thế ngửa bàn tay lên phía trên, và buộc ép vào người.
c. Gãy xương bàn tay và ngón tay:
– Nếu nạn nhân mang nhẫn thì tháo bỏ ngay trước khi sưng tấy. Cố định ngón tay gãy với ngón tay lành.
– Đặt miếng đệm ở long bàn tay để giữ cho bàn tay ở tư thế ngửa bàn tay lên phía trên, xong dùng nẹp cố định bàn tay, có xương gãy với cẳng tay.
– Dùng băng chéo treo cẳng tay có ngón tay gãy lên.
d. Gãy xương cẳng chân:
– Cách thứ nhất: Đỡ nạn nhân nằm ngửa, cố định chân bị thương với chân lành, để đệm lót giữa 2 chân. Băng cố định 2 cổ chân và trên đầu gối. Băng cố định cả phía trên và dưới chỗ gãy.
– Cách thứ hai: Đỡ nạn nhân nằm ngửa. Đặt 2 nẹp : Một nẹp trong từ giữa đùi đến mắt cá chân trong, một nẹp từ giữa đùi đến mắt cá ngoài. Cố định chắc 2 nẹp vào chân lành với chân gãy bằng 3 nút: Trên đầu gối, dưới đầu gối và sát cổ chân.
e. Gãy xương đùi hoặc xương chậu:
– Đỡ nạn nhân nẳm ngửa.
– Đặt 2 nẹp:
Một nẹp phía trong đầu trên sát bẹn, đầu dưới quá mắt cá chân.
Một nẹp phia ngoài, đầu trên sát hố nách, đầu dưới quá mắt cá chân.
Cố định 2 nẹp vào chi bằng 5 nút buộc như sau: 1 nút sát đầu nẹp trong, 2 nút ở hai đầu trên và dưới chỗ xương gãy, một nút ngang đầu gối và một nút sát cổ chân.
-Sau cùng buộc chân gãy vào chân lành.
– Vận chuyển bằng cáng cứng.
f. Gãy xương đòn:
– Đỡ nạn nhân ngồi xuống. Băng kiểu số 8 từ 2 mỏm vai qua lưng cho lồng ngực ưỡn ra để xương gãy không đâm vào đỉnh  phổi.
– Hoặc đặt tay phía xương đòn gãy chéo ngang ngực và buộc bằng băng  treo, rồi cố định cánh tay với ngực bằng băng cuộn lớn trên băng treo.
g. Gãy xương xườn:
– Nhanh chóng băng vết thương bằng băng dính.
– Dùng băng treo cố định bên phía bị gãy sườn để đỡ trọng lượng của tay.
– Chuyển nạn nhân trong tư thế ngồi tựa sang bên đau.
h. Tổn thương cột sống hoặc xương cổ:
– Trấn an nạn nhân, giữ cho họ không được cử động
– Đặt 2 bàn tay 2 bên tai nạn nhân để giữ cho đầu cố định ở giữa.
– Cố định đầu bằng cách cuốn vải thành cổ áo và đặt quanh cổ nạn nhân. Không để cổ và sống lưng cong.
– Luôn giữ cho cổ và cơ thể trên 1 đường thẳng cả khi đặt nạn nhân vào cáng cứng và trong khi vận chuyển. Dùng gối, đệm cát chèn 2 bên đầu, 2 bên cổ nạn nhân.
* Chú ý:
– Nếu cột sống bị gãy thì nạn nhân có khả năng không di chuyển được nữa. Nạn nhân sẽ không cử động, bạn phải gọi ngay sự hỗ trợ của đội cấp cứu y tế.
– Nếu xương sọ bị vỡ có thể máu sẽ chảy ra ngoài tai hoặc mũi, nạn nhân có thể bất tỉnh. Chuyển ngay nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.
Dấu hiệu cho thấy xương gãy hoặc vết thương tiến triển xấu:
–         Sốt
–         Đau và tiếp tục sưng tấy.
–         Các ngón tay và ngón chân trở nên xám lạnh.
–         Có mủ chảy ra từ vết thương.
 
 Bài 6:  SƠ CỨU BỎNG
 
I.Mục tiêu:
– Nắm được nguyên nhân gây bỏng.
– Tiến hành sơ cứu bỏng đúng cách khi gửi lên tuyến trên.

II. Nội dung:
1.Khái niệm:
  Bỏng là tổn thương do tác dụng trực tiếp của các yếu tố vật lý (nhiệt, bức xạ, điện…) và hoá học gây ra trên cơ thể. Da là bộ phận thường bị tổn thương nhất khi bị bỏng, kế đến là các lớp sâu dưới ga (cân, cơ, xương, khớp, mạch máu, thần kinh) và một số cơ quan (đường hô hấp, ống tiêu hoá, bộ phận sinh dục)…
2. Nguyên nhân gây bỏng:
+ Bỏng Do Nhiệt: thường gặp nhất. Chia thành hai nhóm: Nhóm do nhiệt khô (lửa, tia lửa điện, kim loại nóng chảy…)  và nhóm do nhiệt ướt (nước sôi, thức ăn nóng sôi, dầu mỡ sôi, hơi nước nóng…) .
+ Bỏng Do Dòng Điện chia thành hai nhóm: Do luồng nhiệt có hiệu điện thế thông dụng (dưới 1000 volt) và do luồng điện có hiệu điện thế cao (trên 1000 volt). Sét đánh cũng gây bỏng do luồng điện có điện thế cao.
+ Bỏng Do Hoá Chất : gồm các chấy oxy hoá, chất khử oxy, chất gặm mòn, chất gây độc cho bào tương, chất làm khô, chất làm dộp da. Trên lâm sàng được chia thành hai nhóm: Nhóm Acid acids Sulfuric, Nitrics, Chlohydric…) và nhóm Chất Kiềm (NaOH, KOH, NH4OH…). Bỏng do vôi là loại bỏng vừa do sức nhiệt vừa do chất kiềm.
+ Bỏng Do Bức Xạ: tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia Laser…
ngoài ra, còn có bỏng do Nhựa đường, tai nạn giao thông…
3.Phân loại:
Bỏng được chia làm ba loại:
+ Bỏng độ I: Da đỏ lên, chỉ ảnh hưởng đến lớp da ở nông nhất, vết bỏng lành nhanh nhưng da bị tổn thương có thể tróc ra sau đó vài ngày. Rám nắng được xếp vào loại bỏng độ 1.
+ Bỏng độ 2: Da bị tổn thương sâu hơn, tạo bóng nước. Tuy nhiên một phần chân bì (phần sâu của da) vẫn còn nên da có thể tái tạo lại được. Vì vậy, bỏng độ 2 thường lành, không để lại sẹo, trừ khi diện tích bỏng quá rộng.
+ Bỏng độ 3: Huỷ hoại toàn bộ bề dầy của da. Vùng da bỏng có mầu trắng hoặc cháy sém. Nếu bỏng sâu có thể tới cơ và xương.
  Bề sâu của vết bỏng tuy quan trọng cho việc vết bỏng thành sẹo tốt hoặc xấu nhưng chính bề mặt vết bỏng là yếu tố quan trong quyết định việc biến chuyển toàn thân của người bỏng: bề mặt da bị bỏng càng rộng càng nguy hiểm cho tính mạng vì mất nhiều nước và đau nhiều. Bỏng chiếm trên 15% diện tích được coi là bỏng nặng.
4.Ảnh Hưởng Và Biến Chứng
  Bệnh bỏng được xác định khi diện bỏng từ 10-15% diện tích cơ thể trở lên hoặc khi có bỏng sâu (từ 3-5% diện tích trở lên). Chấn thương bỏng gây các rối loạn chức năng toàn thân và các biến đổi bệnh lý xuất hiện có tính chất quy luật từ khi bị bỏng cho đến khi khỏi hoặc chết.

+ Bỏng lan rộng độ 1: gây đau, bồn chồn, nhức đầu, sốt nhưng không nguy hiểm.
+ Bỏng độ 2 hoặc 3 trên 10% diện tích da, có thể bị sốc, mạch tăng, huyết áp hạ do cơ thể mất một lượng lớn dịch chứa Protein ở vùng bỏng. Sốc có thể gây chết nếu không điều trị kịp thời bằng bù dịch.
Khi bị bỏng, da không thể bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng được nữa. Nhiễm trùng vùng da bị bỏng rộng có thể gây biến chứng chết người.
Bị bỏng mắt, cần xử trí kịp thời để bảo vệ mắt. Ngay sau khi bị bỏng, cần rửa mắt nhiều lần bằng nước lạnh sạch, vô khuẩn, sau đó gửi đến chuyên khoa mắt.
5. Sơ cứu bỏng:
 Khi bị bỏng cần phải sơ cứu nhanh chóng và khẩn trương, tránh những hậu quả đáng tiếc. Tuy nhiên, việc sơ cứu cần phải được thực hiện rất cẩn thận và đúng cách. Những kiến thức cơ bản sau sẽ giúp bạn xử trí nhanh chóng và đem lại hiệu quả khi sơ cứu bỏng.
a. Sơ cứu Bỏng Nhẹ:
– Dập tắt nguyên nhân gây bỏng.
– Nhúng vùng bị bỏng vào vòi nước lạnh ngay lập tức.
– Hoặc đắp chỗ bỏng bằng gạc (khăn tay hoặc khăn tắm) thấm nước lạnh cho đến khi bớt đau.
– Tháo hết các đồng hồ, vòng đeo tay, nhẫn, dây thắt lưng hoặc quân áo chật tại vùng bị bỏng trước khi chỗ bỏng sưng lên.
– Băng lại bằng gạc sạch (vô trùng).
b. Sơ cứu Bỏng Nặng:
Bỏng hoá chất: 
-Dùng nước lạnh để dội sạch các hoá chất dính trên cơ thể nạn nhân. Nếu như đó là loại hoá chất quá mạnh như bỏng vôi, có thể dùng bàn chải hay chổi lông để loại bỏ nó sau đó mới xả nước.

 

– Cởi bỏ quần áo, đồ trang sức bị dính hoá chất.

– Bọc vùng bị bỏng bằng vải khô hay gạc khô để tránh nhiễm trùng.

– Nếu vết bỏng xảy ra ở mắt, cần phải nhanh chóng rửa mắt ngay với nước, rửa nhiều lần để loại bỏ hết hoá chất trong mắt. Ngâm mắt trong nước ít nhất 20 phút. Sau khi rửa xong, nhắm mắt và băng lại bằng gạc mỏng.

Bỏng điện:
 Khi phát hiện nạn nhân bị bỏng điện cần khẩn trương ngắt nguồn điện ra khỏi người nạn nhân. Cần thận trọng trong quá trình ngắt điện, cần dùng vật cách điện như bao tay, que gậy khô.

– Bỏng điện rất nguy hiểm có thể gây ảnh hưởng đến nhịp tim.

– Vết bỏng có thể chỉ biểu lộ ra bên ngoài dưới dạng bỏng nhẹ, nhưng nguy cơ phá huỷ khi bị bỏng điện là rất cao, thậm chí nó sẽ ăn sâu vào bên trong dưới lớp biểu bì. Vì thế sau khi sơ cứu cần nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.
 
* Chú ý:
Khi sơ cứu bỏng. không được:
– không dùng đá để chườm trực tiếp lên vết bỏng, sẽ gây nên những hậu quả khó lường.

– Không bôi mỡ hay dầu lên vết bỏng. Bôi mỡ hay dầu cá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi, gây nhiễm trùng.
–  Không nên buộc gạc quá chặt để tránh sức ép lên vết thương.

– Ở chỗ da bị bỏng thường xuất hiện túi phỏng có chứa dịch lỏng bên trong. Bạn không nên chọc vỡ nó mà hãy để nó tự vỡ, để tránh nguy cơ bị nhiễm trùng.

 
Bài 7: SƠ CỨU ĐIỆN GIẬT

     I.Mục tiêu:
    1. Nắm được dấu hiệu của điện giật.
    2.Tiến hành cấp cứu điện giật.
    II. Nội dung:

 
    Điện giật rất nguy hiểm tới tính mạng. So với các loại tai nạn bởi các yếu tố nguy hiểm khác, thì tai nạn do điện cũng thuộc loại cao, có thể gây chết ngưòi trong thời gian ngắn và người bị nạn không thể cảm nhận được mối nguy hiểm đe doạ mình.
– Khi bị điện giật, các cơ của cơ thể bị co giật mạnh, làm người bắn ra.
 – Nếu đang ở trên cao sẽ bị rơi xuống gây chấn thương. Có khi người bị điện giật bị dính vào dây điện, trường hợp này nên cẩn thận vì nạn nhân sẽ bị rơi xuống đất khi cắt điện.
 – Khi bị điện giật, người sẽ bị bỏng và nguy hiểm nhất là ngừng thở, ngừng tim rồi chết.
2. Sơ cứu khi bị điện giật:
  Chất lượng sơ cứu tai nạn điện phụ thuộc nhiều vào sự nhanh nhẹn, tháo vát và cứu chữa đúng cách. Khi có tai nạn điện xảy ra, phải nhanh chóng tách người bị giật ra khỏi nguồn điện và nhanh chóng cứu chữa, không để lãng phí thời gian vào việc xem người đó đã chết chưa.
– Khi phát hiện người bị điện giật, cần nhanh chóng tách họ ra khỏi dòng điện bằng cách cắt cầu dao điện.
–  Có thể dùng bất cứ một vật dụng gì khô nhưng không phải bằng kim loại để đẩy, tách nạn nhân ra khỏi dòng điện.
– Không được dùng tay không mà nên mang găng tay cao su hay quấn bao nylon, vải khô, đi guốc dép khô hay đứng đứng trên một tấm ván khô, dùng gậy gỗ khô để gạt dây điện ra.
– Người ứng cứu cần cẩn thận vì rất dễ bị điện giật khi cứu nạn nhân do cầm, sờ trực tiếp vào nạn nhân mà quên cắt điện.
– Sau khi tách được người bị điện giật ra khỏi dòng điện, trước hết phải làm cho 2 bộ phận tim, phổi hoạt động, sau đó mới cứu các bộ phận khác: bỏng, gãy xương, dập nát.
* Ngưòi bị nạn vẫn tỉnh: theo dõi vì trong thòi gian đầu hay sốc và rối loạn nhịp tim.
* Người bị nạn bị ngất: Lúc đầu tim mạch và phổi vẫn làm việc bình thường, sau đó do rối loạn chức năng não —-> ngừng thở. Khi đó phải tiến hành hô hấp nhân tạo:
(1)Thông đường hô hấp: để đờm, rãi tự chảy ra không thể trôi vào phổi được bằng cách đặt nằm nghiêng, gập tay người bị nạn đặt bên dưới mặt.
(2) Thổi ngạt: (khi thở bị ngừng)
– Moi đờm, rãi, thức ăn, răng giả trong miệng ra
– Hô hấp nhân tạo: bằng máy hoặc bằng tay: hiệu quả thấp: tốn nhiều sức, ít không khí vào phổi.
– Hà hơi, thổi ngạt: đơn giản, nhiều ưu điểm hơn cả, chỉ cần một người làm và áp dụng ở khắp mọi nơi
Những phút đầu thổi 20 lần/phút, sau: 16 lần/phút.
– Xoa bóp tim: ấn cho lồng ngực bị nén xuống từ 3-4 cm. 60-80 lần / phút.
Cứ kiên trì, tiếp tục làm như vậy cho đến khi nạn nhân tỉnh, thở trở lại
 Theo dõi dấu hiệu môi hồng và mạch ở tay đập của nạn nhân để có nhận xét về tiên lượng đáp ứng cấp cứu cho đến khi có nhân viên y tế đến đón nạn nhân về bệnh viện nơi gần nhất để tiếp tục cứu chữa.
3. Lưu ý khi cấp cứu điện giật:
– Khi ngắt điện, cần đề phòng nạn nhân bị ngã gây chấn thương khiến tai nạn nặng thêm.

 

 

      Dấu hiệu khi bị điện giật:
   – Người vào cứu tuyệt đối không dùng tay để kéo nạn nhân ra khi nguồn điện chưa được cắt để tránh bị điện giật.
   – Toàn bộ công việc cấp cứu ngừng tim chỉ gói gọn trong 3 phút, do vậy người cấp cứu phải thật bình tĩnh, khẩn trương,    thực hiện đúng cách và tiến hành ngay tại nơi xảy ra điện giật.
Chỉ chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế để cấp cứu hồi sức khi bệnh nhân đã tự thở lại và lấy được mạch.
Trên đường chuyển nạn nhân đến bệnh viện, vẫn phải tiếp tục công việc cấp cứu, theo dõi sát sao để phát hiện và điều trị kịp thời các biến chứng.
 
Bài 8: CẤP CỨU ĐUỐI NƯỚC
I.Mục tiêu:
– Xử lý được người đuối nước tại cộng đồng.
II. Nội dung:
1.Đại cương:
   Đuối nước là tình trạng nước tràn vào đường hô hấp làm cho các cơ quan bị thiếu ôxy và các chức năng sống của cơ thể ngừng hoạt động.
   Đối với tai nạn này, việc sơ cứu ngay tại chỗ nhờ những người xung quanh là rất quan trọng, việc đưa tới bệnh viện chỉ nhằm cấp cứu những biến chứng. Vì khi ngập nước, chỉ trong vòng mấy giây là bắt đầu thiếu ôxy và sau 5 phút ngập nước, tim sẽ ngừng đập, não sẽ không hồi phục được. Do đó việc cấp cứu phải tiến hành nhanh. Nạn nhân bị đuối nước có thể bị đuối nước lạnh, nước nóng, nước ngọt, nước mặn vì thế việc sơ cứu cũng phụ thuộc vào nước (nếu nước lạnh thì tìm cách hạ thân nhiệt, nước nóng dễ bị thiếu ôxy não…).

 

2. Cấp cứu người bị đuối nước:
 a.Cấp cứu ngay ở dưới nước:
 – Nắm tóc kéo đầu nạn nhân nhô lên khỏi mặt nước, tát mấy cái thật mạnh vào má nạn nhân để gây phản xạ hồi tỉnh và thở lại.
– Nhanh chóng quàng tay qua nách, hoặc gọi thêm người hỗ trợ đưa nạn nhân vào bờ.
– Cấp cứu tại chỗ là quan trọng nhất, quyết định sự sống còn của nạn nhân, nếu xử trí chậm nạn nhân bị thiếu ôxy não rất khó cứu sống sau đó.
b. Cấp cứu tại chỗ ngay sau khi vớt lên bờ:
– Khi đưa được nạn nhân lên bờ hay lên thuyền  phải tiến hành hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt ngay:
– Khai thông đường hô hấp bằng cách đặt nạn nhân nằm ưỡn cổ nghiêng sang một bên, dùng gạc hay khăn vải móc đờm dãi, dị vật khỏi đường thở và miệng nạn nhân.
– Đặt một khăn mùi soa hay miếng gạc qua miệng nạn nhân, dùng hai ngón tay cái và trỏ bịt mũi nạn nhân rồi thổi hơi trực tiếp vào miệng nạn nhân.
– Nếu ngừng tim (sờ mạch quay không có) phải ép tim ngoài lồng ngực.
+ Dùng hai tay chồng lên nhau ép lên lồng ngực ngoài tim, tần số ép khoảng 100 lần/1 phút.
+ Nếu chỉ có một người cấp cứu thì thổi ngạt 2-3 hơi lại ép tim ngoài lồng ngực 10-15 nhịp.  
+ Nếu có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt, một người ép tim ngoài lồng ngực, làm kiên trì cho đến khi tim đập lại và thở trở lại.
– Khi tỉnh lại, nạn nhân sẽ nôn ra nước nên phải để nạn nhân ở tư thế an toàn, kê gối dưới hai vai, nới rộng quần áo, phòng cho nạn nhân không bị ngạt trở lại vì sặc chất nôn.
– Nếu nạn nhân ngừng thở và không nghe thấy tiếng tim đập nữa thì kết hợp thổi ngạt và ấn tim ngoài lồng ngực. Có thể tiêm thuốc trợ tim: long não, cafein… Sau 2-3 giờ cấp cứu mà tim không đập trở lại, đồng tử mắt vẫn giãn to là hết hy vọng cứu sống.
-Khi gặp trẻ đuối nước người ta thường vác dốc ngược trẻ trên vai, động tác dốc ngược nạn nhân chỉ có tác dụng khai thông vùng họng và miệng, vì vậy không nên thực hiện ở người lớn và không nên làm quá 1 phút ở trẻ em.
– Nếu sơ cứu có kết quả, nạn nhân thở lại, cử động giãy giụa, hay nạn nhân vẫn còn mê nhưng đã có mạch và nhịp thở thì gọi xe cấp cứu hay dùng mọi phương tiện sẵn có chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế có trang bị hồi sức cấp cứu.
– Quá trình vận chuyển vẫn phải tiếp tục cấp cứu và đắp giữ ấm cho nạn nhân.
– Khi tim đập trở lại, nạn nhân có thể thở yếu, cần cho thở hỗ trợ và theo dõi cấp cứu nếu thấy ổn định, chuyển nạn nhân về tuyến sau.

3.Những việc cần tránh:
Phần lớn nạn nhân bị ngạt nước khi đưa đến cấp cứu tại các bệnh viện không được sơ cứu hay sơ cứu không đúng cách dẫn đến tử vong hoặc di chứng não do thiếu oxy. Các sơ cứu không đúng bao gồm:
– Bỏ nhiều thời gian cho việc xốc nước: động tác dốc ngược nạn nhân không cần thiết và không nên thực hiện vì thường lượng nước vào phổi rất ít chứ không phải phổi chứa đầy nước như người dân thường nghĩ. Lượng nước rất ít này sẽ được tống ra ngoài khi nạn nhân tự thở lại. Ngoài ra việc sốc nước còn làm chậm thời gian cấp cứu thổi ngạt và tăng nguy cơ hít sặc.

– Các nạn nhân ngưng thở ngưng tim không được cấp cứu thổi ngạt và ấn tim tại nơi xảy ra tai nạn hoặc trong lúc vận chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế. Điều này làm cho não và các cơ quan thiếu oxy kéo dài, chết tế bào não, dẫn tới tử vong và di chứng não nặng nề. Vì thế tốt nhất phải cấp cứu thổi ngạt ngay khi đưa đầu nạn nhân lên khỏi mặt nước trước khi đưa vào bờ. 
 
Bài 9: ĐỘNG VẬT CẮN
 
  Vết thương do động vật cắn có khi nguy hiểm dẫn đến chết người do nọc độc, nhiễm khuẩn, vi-rút.
  Những công nhân nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp lao động ở môi trường có thể bị động vật cắn hoặc côn trùng đốt như chó, rắn, bò cạp, ong…
 
Nguyên tắc sơ cấp cứu trường hợp bị động vật cắn:
Nếu bạn không biết rõ động vật nào cắn:

  • Kiểm tra chung quanh để đề phòng nguy hiểm đối với bạn.
  • Giải thích cho nạn nhân bình tĩnh, đừng lo sợ để bạn giúp đỡ.
  • Rửa kĩ vết cắn (thậm chí cả vết cắn rất nhỏ) bằng nhiều nước và xà phòng, nếu không có nước có thể sử dụng bất kể loại nước nào có sẵn.
  • Không được mút vết thương bằng miệng, vì nọc độc có thể qua miệng người sơ cứu, nhất là khi niêm mạc miệng có vết trầy xước.
  • Cầm máu bằng cách dùng các ngón tay ép mạnh hai mép vết thương vào nhau. Không được buộc ga-rô vì nếu đặt ga-rô không đúng sẽ bị hoại tử thi.
  • Phủ lên vết thương một miếng gạc hoặc vải sạch và băng lại.

 
  Sơ cấp cứu vết thương do chó cắn:

  • Sơ cứu như vết thương do động vật cắn nói ở phần trên.
  • Nếu vết thương rách da, sau khi sơ cứu chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế, nơi có vắc xin phòng uốn ván.
  • Theo dõi chó có bị dại không (nhốt chó 10 ngày để kiểm tra). Nếu nghi ngờ chó bị dậiphỉ chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế nơi có huyết thanh kháng bệnh dại. Nếu chó bị dại phải diệt ngay dể không cắn người.

 
  Sơ cấp cứu trường hợp bị rắn cắn:

  • Nhanh chóng đặt nạn nhân nằm xuống. Bảo họ bình tĩnh đừng lo sợ.
  • Rửa vết thương bằng nước và xà phòng càng nhiều càng tốt để tẩy bớt nọc độc.
  • Nếu nạn nhân bị rắn cắn ở chân hoặc cánh tay, lấy băng cuộn băng cả chi để làm chậm quá trình nhiễm độc. Bất động chi dó bằng nẹp. Không được buộc ga-rô hoặc rạch vết thương để lấy nọc độc ra.
  • Chuyển nạn nhân đến bệnh viện bằng cáng. Cần giữ nạn nhân nằm yên, phần bị thương để thấp hơn so với tim để nọc độc không lan toả nhanh.
  • Cần xác định xem loại rắn gì để giúp bệnh viện dùng đúng huyết thanh trung hoà nọc độc rắn.

Chú ý:
–          Rắn độc cắn có thể gây sốc, cần theo dõi các dấu hiệu sốc như buồn nôn, nôn mửa, khó thở, da lạnh, đổ mồ hôi: Sơ cấp cứu sốc nếu có.
–          Trường hợp bị bọ cạp đốt cũng sơ cấp cứu như rắn cắn.
 
Sơ cấp cứu trường hợp bị các loại ong đốt:

  • Dùng nhíp hoặc móng tay lấy ngòi